Tài Đức Của Binh Bộ Thượng Thư Đinh Bạt Tuy

Thảo luận trong 'Họ Đinh Miền Trung' bắt đầu bởi Đinh Bạt Thanh, 6/5/13.

  1. Đinh Bạt Thanh Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    6/5/13
    Số bài viết:
    5
    Địa điểm:
    HƯNG TRUNG - HƯNG NGHUYÊN - NGHỆ AN
    Tương truyền, họ Đinh Bạt xưa ở ngoài động Hoa Lư, xứ Thanh Hoa (nay là xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Khoảng thế kỷ XIV, ông Đinh Văn Đạt, con ông Đinh Văn Mịch đã di cư vào xứ Hoan Châu, huyện Hưng Nguyên, xã Bùi Khổng, làng Thổ Ngõa (này là làng Bùi Ngõa, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An). Tại đây, ông Đạt lấy con gái quan Ngự sử đời nhà Trần tên là Nguyễn Thị Phúc, người cùng xã. Vợ chồng ông Đạt sinh được một người con trai tên là Đinh Văn La. Trưởng thành, ông La xây dựng gia đình với bà Trần Thị Nộn, người cùng xã. Vợ chồng ông La sinh được hai người con trai tên là Đinh Văn Hùng và Đinh Văn Chi. Sau đó, ông Hùng lấy bà Hoàng Thị Bào làm vợ và sinh được một người con trai tên là Đinh Bạt Tụy.

    vợ chồng ông Hùng rất nghèo, quanh năm chỉ biết cày ruộng kiếm sống, nhưng lại rất thương người, hay làm việc thiện mà không màng được báo ơn. Một hôm, ông Hùng đang cặm cụi cày ruộng, thấy một ông lão đói khổ, ông Hùng động lòng thương. Vừa đến trưa, người vợ đem cơm ra, ông Hùng đã mời ông lão ăn cơm cùng vợ chồng ông . Ăn xong, ông lão cảm tạ, rồi chống gậy đi. Đến trưa hôm sau, ông lão ấy lại đột nhiên xuất hiện, ông Hùng vẫn tiếp tục mời ông lão ăn cơm. Cứ như thế, gần một tháng trời, ông lão được vợ chồng ông Hùng mời cơm. Thế rồi, bỗng dưng vợ chồng ông Hùng không thấy ông lão ấy đến ăn cơm nữa. Một thời gian sau, vào một đêm đông lạnh giá, trời mưa phùn và tối om như mực, lúc ông Hùng vừa mới bắt đầu đi ngủ thì nghe tiếng gọi cửa. Ông Hùng ra mở cửa thì thấy ông lão ấy.

    Sau khi mời vào nhà, ông Hùng hỏi: “Bấy lâu nay làm sao không thấy ông đến chơi?”. Ông lão liền đáp lại: “Ta già yếu, đói khát, đội ơn ông bà thương đến đã nhiều rồi, ta không dám làm phiền thêm nữa. Đêm nay rét quá nên ta trở lại xin ông bà cho nằm nhờ một đêm”. Nghe xong, ông Hùng liền lấy rơm rạ đốt lên cho ông lão sưởi, còn vợ ông Hùng nấu cháo mời ông lão ăn. Trong khi ngồi trò chuyện với ông Hùng, ông lão nói: “Ta bình sinh đi đâu cũng không gặp chốn nương thân, đến nỗi phải lưu lạc như thế này. Nay thấy cái tình ông bà đối với ta, ta không biết lấy gì báo đáp”. Ông Hùng liền đỡ lời: “Tôi đây sinh chẳng gặp thời (ông Hùng là một hàn sĩ – PV), lại gặp vận nhà truân trải, ban ngày đi cày, ban đêm về đọc sách, mượn cảnh nhà tranh, nước lạnh để làm vui. Vợ chồng điền dã không có kẻ tri âm. Ông là một người lưu lạc, tôi đây là một lão nông, ông thật là một người tri âm của tôi. Ông ở đây chơi cho lâu, chính là ý tôi mong muốn. Còn như sự cơm nước tầm thường chi đó, tôi đâu có dám nghĩ đến sự báo đáp gì đâu”.

    Sau khi nghe ông Hùng phân trần, ông lão nói: “Tôi với bác chưa từng quen nhau, mới gặp nhau lần đầu mà bác không ngần ngại hậu đãi, tôi ở lâu dài mà bác bà (vợ ông Hùng) cũng kính trọng, không có chút nào khinh bạc tôi cả. Trong một nhà mà hai vợ chồng cùng nhân hậu như thế là xuất nhân lắm. Suy điều ấy thấy điều kia, cũng đủ thấy bác ông, bác bà nhân cơ âm đức. Ở đời ai nhân đức làm việc thiện thì trời dành phúc cho, ấy là cái lẽ tất nhiên. Tôi đây làm nghề thanh điếu (địa lý) tuy chưa được tinh lắm, nhưng cũng làm đã lâu ngày, tôi thường xem phong thủy ở bản xã đây, có điểm được một huyệt đất tốt, nếu bác có bằng lòng nghe tôi thì tôi xin hiến cho bác”.

    Nghe ông lão nói vậy ông Hùng suy nghĩ: “Việc phần mộ của tiền nhân là hệ trọng, không dám khinh suất, nhưng sự gặp gỡ ông lão xuất ư tự nhiên, cũng là thiên ý”, bèn nhận lời. Tuy vậy, ông Hùng còn xin ông lão để xem ngày giờ đã. Song, ông lão cười mà nói rằng: “Hôm nay tôi trở lại đây không phải là vì lạnh rét đâu, chính vì được ngày giờ tốt, rất hợp với cái đất ấy cho nên tôi trở lại đây nói với ông bà”. Ông Hùng rất lấy làm lạ, nhưng lại băn khoăn là việc quan trọng mà chưa kịp xin đất ở nhà điền chủ. Biết được ý nghĩ đó của ông Hùng, ông lão nói: “Việc đó đã có thiên, địa an bài rồi. Xin đừng chậm trễ mà quá giờ. Bây giờ còn kịp biện cho một cái nồi đất mới để làm cho kịp giờ tốt”.

    Ông Hùng nghe vậy nên làm theo. Hai ông đi tới mộ ông Đinh Văn La (cha của ông Hùng) để cất bốc hài cốt. Lúc đó đêm khuya, mưa gió ầm ầm, trời tối như mực. Ông lão cầm đuốc đi trước dẫn tới một chỗ, bảo ông Hùng đào huyệt để an táng nhưng chỉ táng bằng, không vun nấm. Công việc xong xuôi, ông lão nói: “Bây giờ đêm tối mù mịt, địa giới chưa rõ, sáng mai nên đến nhận cho đúng”. Nói xong, ông lão đi tới giếng rửa tay, hồi lâu không thấy trở lại, ông Hùng cầm đuốc đi tìm nhưng không thấy ông lão đâu nữa, lấy làm kinh lạ, bèn đi về nhà.

    Đêm ấy, trong làng có một vị hương lão nằm chiêm bao thấy quan quân đòi đến thửa ruộng ấy để nghe sắc chỉ. Trông thấy gươm, giáo, cờ, bài uy nghi. Bỗng chốc nghe sứ giả truyền lệnh rằng: “Thửa ruộng này phải để làm quốc dụng, không ai được cày bừa trồng trọt”. Nghe lệnh xong, vị hương lão ấy tỉnh dậy, nhưng không thấy cái chiêm bao ấy ứng nghiệm với việc gì cả. Gần sáng, ông Hùng tới xem thì thấy mộ đã đội lên thành một cái nấm cao, trong bụng lấy làm mừng mà trở về. Người trong làng đến xem cũng lấy làm lạ. Vị hương lão triệu tập người trong làng lại để nói về giấc mộng tối qua. Làng bèn cắm tiêu thửa đất ấy làm đất “cấm địa”. Còn ông Hùng vẫn không dám tiết lộ cái đất ấy là phần mộ của cha mình. Sau đó, ông Hùng mới biết ông lão kia, không phải người bình thường.

    Ngôi mộ tọa lạc ở xứ đồng Chăm, nguyên trước là thửa ương điền hình chữ “đinh” khoảng 3-4 sào. Ở hai bên tả, hữu có 2 cái giếng “thiên tạo”. Giếng ở bên trái tên là giếng Chăm (cái giếng ông lão rửa tay). Giếng bên phải tên là Cồn Sanh. Quan sát xa gần quanh ngôi mộ thấy phía trước là núi Nện làm bảng, phía sau phương Bắc, huyền vũ có núi Chờ, núi Trám. Ở phương Nam, lượng bút có núi Bai, núi Tượng. Ở Đoài dận có núi Linh Mã, ở Ất cung có các dòng nước chảy bao bọc xung quanh và nhập về một nhánh”. Chính vì thế, từ bao đời nay, ngôi mộ cải táng ông Đinh Văn La được anh em, con cháu dòng họ Đinh Bạt và nhân dân nơi đây gọi là mộ “Thiên táng”. Hiện tại, hằng năm con cháu dòng họ Đinh Bạt vẫn tề tựu về ngôi mộ này tưởng niệm thành kính thắp hương vị Thái bảo Đinh Văn La.

    Trong thực tế, bắt đầu từ đời cháu của ông Đinh Văn La đã phát đạt. Trước tiên là sự "công thành danh toại" của ông Đinh Bạt Tụy, con trai ông Đinh Văn Hùng, cháu nội ông Đinh Văn La. Theo gia phả họ Đinh Bạt cho thấy: Định Bạt Tụy sinh năm 1516, mồ côi mẹ năm lên 7 tuổi, mồ côi cha lúc mới 12 tuổi. Từ khi cha mẹ qua đời, Đinh Bạt Tụy một mình sống cô đơn, trải bề tận khổ. Trong hoàn cảnh ấy, Bạt Tụy quyết chí vươn lên. Sau khi nương tựa vào một thầy học ở trong làng, ban ngày Bạt Tụy kiếm củi, gánh nước, đêm về lo học thi thư. Đến năm 1535, cậu học trò nghèo Bạt Tụy trúng thi hương và được vào học tại trường Quốc Tử Giám. Năm 1554, triều đình nhà Lê mở khoa thi tuyển hiền tài, Bạt Tụy là giám sinh ứng thí và thi trúng "đệ nhất danh, đệ nhất giáp" (ngày nay gọi là Thủ khoa - PV) được vua ban áo mũ và dự yến tiệc. Sau khi thi đỗ trạng nguyên, Đinh Bạt Tụy đã có công lớn trong việc giúp vua nhà Lê đánh bại quân Mạc, lấy lại cơ nghiệp. Làm việc dưới triều Lê, Đinh Bạt Tụy đã nắm giữ nhiều chức vụ cao như: Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý; Hàn lâm viện thị chế trung giai; Đông các hiệu thư; Hiển vinh đại phu; lại khoa đô cấp sự trung trật; Tuyên lực công thần đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đông các học sĩ tá trị thượng khanh; Hộ bộ tả thị lang; Đô ngự sử; Binh bộ tả thị lang; Binh bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ...

    Từ đó, họ Đinh ở vào hàng ngũ dòng tộc được trọng vọng. Năm 1589, vua Lê đã truy tặng hàm Thái bảo cho ông Đinh Văn La, ông Đinh Văn Hùng, còn bà nội và mẹ của Đinh Bạt Tụy được tặng hàm "Liệt phu nhân". Theo đó, hai bà vợ của ông Đinh Bạt Tụy là Nguyễn Thị Ái và Nguyễn Thị Điều cũng được tặng hàm "Tự phu nhân". Nói về Đinh Bạt Tụy, trong một lần tháp tùng nhà vua ra trận, ông không may lâm bệnh và tạ thế ngày 17-4-1589. Vua Lê lấy làm thương tiếc, nghĩ tới nghĩa tình trước sau trọn đạo trung quân của ông Đinh Bạt Tụy nên đã lệnh cho quan, quân, binh sĩ hộ tang về bản quán tại xã Bùi Khổng, huyện Hưng Nguyên. Đến ngày 3-10-1589, vua Lê đã truy tặng tước "Phúc khê hầu" cho Đinh Bạt Tụy (trước đó ông đã được phong tặng các tước "Nghệ khê nam; Tá trị thượng khanh thượng giai;...). Vào năm 1629, ông lại tiếp tục được phong tặng danh tước "Thượng thư Khê quận công". Năm 1653, công lao của Đinh Bạt Tụy được triều đình khắc vào bia đá để lưu danh mãi mãi.


    Kế nghiệp cha mình, ông Đinh Bạt Tuấn (con trai trưởng) sau khi thi trúng nho sinh (năm 1600, thời vua Lê Kính Tông) đã được vào Hàn lâm viện, phụng sai tu soạn quốc sử. Những năm sau đó, Đinh Bạt Tuấn thường cùng với Trịnh Tùng, Trịnh Tráng đi đánh giặc Mạc, có nhiều công lao. Đến năm 1607, ông được cử đến tỉnh Hải Dương nhận chức "Hiến sát phó sứ". Năm 1629, Đinh Bạt Tuấn lại được phong chức "Công bộ tả thị lang" tước "Hầu mai lĩnh". Cùng thời, ông Đinh Bạt Dịnh và ông Đinh Bạt Tuyển (con thứ của Đinh Bạt Tụy) đều làm quan. Tiếp đến, ông Đinh Bạt Sỹ, con trai ông Đinh Bạt Tuấn cũng làm quan đến chức "Tiểu khanh". Tất cả 7 người con trai của Đinh Bạt Sỹ đều đăng khoa mục. Năm 1643, con trai trưởng Đinh Bạt Hiền đăng hương tuyển, sau đó làm quan giữ các chức vụ: "Hình bộ viên ngoại lang, Quốc tử giám giáo thụ Hiến sát phó sứ"... Vì thế, nhân dân tại địa phương này truyền khẩu với nhau rằng: Kế từ khi có "mộ Thiên táng" thì dòng tộc họ Đinh Bạt trải qua nhiều đời đều có người làm quan (?!)

    Sau 206 năm, kể từ khi Đinh Bạt Tụy qua đời, đến triều đại Tây Sơn còn khâm phục và ca ngợi Đinh Bạt Tụy là một công thần có tài, văn võ song toàn, đức hạnh không ai bằng nên sắc phong: "Tam tự mỹ tự (ba chữ đẹp, ngày nay gọi là ba chữ vàng) cho Thái bảo Khê quận công. Suy tôn thần hiệu: Kháng võ tịch biên, hộ quốc đại vương, vì đương thời ngài vốn có tài văn chương, lại giỏi về võ. Ngài là một công thần cương nghị, ngay thẳng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, từng lên đồi xuống biển cùng nhà vua dẹp loạn. Ngài lại được mọi người mến phục. Khi qua đời được các triều thần, nhà vua và nhân dân tôn thờ là vị thần rất linh thiêng. Đến năm 1810, triều Nguyễn có sắc phong cho Đinh Bạt Tụy 3 chữ "mỹ" và suy tôn thần hiệu "Anh linh thần cơ duệ đoán đại vương". Tiếp đó, vua Minh Mệnh và vua Thiệu Trị đều suy tôn Đinh Bạt Tụy là vị thần linh, giao cho con cháu họ Đinh và nhân dân xã Bùi Khổng phụng thờ để "thần" phù hộ nhân dân. Năm 1991, đền thờ Đinh Bạt Tụy đã được nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đền thờ Đinh Bạt Tụy hiện tọa lạc trên khuôn viên có diện tích hơn 10.000m2, còn phần mộ của ông nằm trên một khu đất rộng khoảng 3.500m2, bao quanh là cánh đồng lúa xanh tốt của xã Hưng Trung ngày nay.

    sưu tầm : Đinh Bạt Thanh
  2. dinhnhulai Moderator

    Ngày tham gia:
    6/11/10
    Số bài viết:
    118
    chào cháu Đinh Bạt Thanh chú đã liên lạc tại số điện thoại cháu cho nhưng người nhận không phải cháu cho chú số điện thoại mới. Số của chú 0914.172.272. tiếc quá chú không ra kịp dự lễ Kị ngài, 27/7/2013 chú có mặt tại Nam Hưng, nghĩa trang thành phố Vinh nhân dịp 27/7 hằng năm, sau đó có vào làng Trung Lương dự lễ giỗ họ Đinh Tại Trung Lương và thắp hương tại Hnwg Khánh Hưng Nguyên. chào cháu nhé. hẹn gặp lại.
  3. dinhnhulai Moderator

    Ngày tham gia:
    6/11/10
    Số bài viết:
    118
    chào cháu Đinh Bạt Thanh chú nhờ cháu tìm lại trong gia phả họ ta tại Hưng Trung, Hưng Nguyên xem cách đây khoảng vài trăm năm, nếu tính đến thế hệ của chú, theo ngài Hậu kỷ Đinh Như Giám thì chú là đời thứ 11, sau chú còn 5-6 đời nữa, nếu tính từ cụ Tiền Kỷ Đinh Như Húy Dư là cố của ông Hậu kỷ là trưởng họ Đinh làng Đồng Di của chú là 19- 20 đời. Như vậy: nếu lấy đời cuối cùng của dòng họ Đinh của cháu tính ngược lên khoảng 19- 20 đời xem có vị nào là trươ]ngf hợp như thế, có một đặc điểm là Cao cao cao Thủy tổ nhà chú 5 đời đều chỉ sinh được một người con trai. chú gửi kèm theo bản thế phả để cháu giúp tìm kiếm hộ nhé. Nếu không có gì thay đổi thì khoảng 25- 27 tháng 7 năm ngay 2013 chú sẽ có mặt tịa Nghệ An. Hẹn gặp cháu và các chú bác bà con trong họ.
    Đám giỗ ngài Tiền kỷ họ Đinh làng Đồng Di
    Nhà thờ họ Đinh làng Đồng Di, xã Phú Hồ,
    huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

    Hôm nay ngày 7 tháng 4 năm Quý Tỵ là ngày giỗ ngài Hiển Cao Cao Tổ Khảo ĐINH QUÝ LANG húy Dư Ngài nguyên trấn Nghệ An. Hậu duệ của Ngài là Ngài Đinh Như Húy Giám Trưởng Họ Đinh làng Đồng Di đi vào miền trong đến xứ Thuận Hóa cùng ba vị khai canh lập làng “tứ tộc khai canhh” của làng (Phạm, Lê, Dương, Đinh). Sau khi ổn định Ngài trở về Trấn Nghệ An, tìm về thăm làng cũ và mộ phần Tiên nhân, bèn dời phần mộ của ông bà Cố và các mộ thân 10 ngôi đem về chôn tại làng Đồng Di. Đem ngài Đinh Như Dư làm Tiền kỷ, Ngài Đinh Như Giám làm Hậu kỷ, đề rõ ràng thế hệ, thứ tự cho con cháu nối đời gìn giữ.

    TIỀN KỶ
    - Ngài Thỉ Tổ Đinh Như húy Dư
    Ngày mất 8 tháng 4, sinh được một trai;
    - Ngài Tiên Tổ Đinh Như Húy Thêm
    Ngày mất 10 tháng 8, sinh được một trai;
    - Ngài Tiên Tổ Đinh Như húy Thuấn
    Ngày mất 3 tháng 6, sinh được một trai.
    HẬU KỶ
    Đời thứ nhất:
    - Ngài Đinh Như húy Nga lại húy Giám. Trưởng họ Đinh Như làng Đồng Di
    (con của Ngài thứ 3 trên Tiền kỷ).
    Ngày mất 24 tháng Giêng, Sinh hạ được 4 trai 1 gái;
    Trai: (Lộc, Khương, Phụng, Đoán), gái: Đinh Thị Nga).

    Đời thứ hai:
    1/- Ngài Đinh Như Lộc tục Viết.
    Ngày mất 26 tháng 2, sinh hạ được 6 trai 1 gái;
    Trai: (Tô, Đạt, Năng, Diệu, Phi, Khoa), gái (Đinh Thị Liễu)
    2/- Ngài Đinh Như Khương (tục Sơn)
    Ngày mất 11 tháng 1, vô tự
    3/- Ngài Đinh Như Phụng (tục Cẩm)
    Ngày mất 28 tháng 11, vô tự
    4/- Ngài Đinh Như Đoán tục Cảnh
    Ngày mất 9 tháng 7, sinh 1 trai (húy Kế lại húy Doãn), đã xuất phái (Đinh Như Phi)

    Đời thứ ba:
    1/- Ngài Đinh Như Tô (tục Đức)
    Ngày mất 20 tháng 4, vô tự
    2/- Ngài Đinh Như Đạt tức Long
    Ngày mất 20 tháng 10, sinh 4 người con
    Trai (Hoành, Liêu tục Châu, Siêu, Thạc tục Dĩnh)
    3/- Ngài Đinh Như Phi (tục Tước)
    Ngày mất 3 tháng 9, sinh hạ 4 trai 4 gái
    Trai (Thiệu, (tục Hàn), Bửu (tục Thành), Bình (tục Nguyệt), Ấm (tục Lương), Gái (Thị Cảnh, Thị An, Thị Đông, Thị Nhuy)
    Đến đời thứ tư xuất phái - 4 người con sau này xuất thành 3 phái:
    *Phái nhất: Ngài Đinh Như Thiệu cư tại làng.

    *Phái nhì: Ngài Đinh Như Bửu cư tại Hồ Xá, Vĩnh Linh, Quảng Trị
    *Phái ba: Ngài Đinh Như Ấm cư tại làng.
    *Phái tư: Ngài Đinh Như Đoán con thứ tư của ngài Hậu kỷ (đời thứ 2) .
    - Hiện nay con cháu của ngài từ Hậu kỷ đã có đời thứ 15- 16.
  4. Đinh Bạt Thanh Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    6/5/13
    Số bài viết:
    5
    Địa điểm:
    HƯNG TRUNG - HƯNG NGHUYÊN - NGHỆ AN
    chú ah, cháu đang công tác o saigon , nên chưa tìm hiểu việc của chú nhờ cháu được ah, có gì khảng 1 tháng nữa cháu về nghệ an sẽ tim hiểu kỹ , rồi báo lại cho chú nhé, nếu cháu ko tìm được hoặc có gì không hiểu thì lúc nào chú tới nghệ an rồi chú liên hệ với cháu , khi đó chú cháu mình tìm hiểu dễ hơn chú nhé, hẹn sớm gặp mặt chú ............
  5. dinhnhulai Moderator

    Ngày tham gia:
    6/11/10
    Số bài viết:
    118
    cảm on cháu Thanh, như vậy chú khoảng 23- 27/ 7/ 2013 sẽ có mặt tại tp Vinh trong mấy ngày ấy chú đi thắp hương viếng mộ tại Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Vinh và về quê ngoại tại Đức Vĩnh, Trung Lương Đức Thọ sau đó về Núi Thành thắp hương mộ tổ họ Nguyễn bên ngoại, hẹn chú cháu mình có dịp gặp nhau trao đổi thêm, nhnwg chú cũng muốn qua cháu liên lạc với họ tộc của cháu xem khoảng thời gian đó có vị nào như tài liệu chú nêu không, chắc tài liệu này bằng chữ hán nếu so sánh thế thứ và đời thì cháu lấy đời hiện tại tính ngược lên 19- 20 đời ở trong khoảng thời gian đó, nếu trung bình một đời theo gia phả các họ hiện nay thì dao động vào khoảng 30- 32 năm một đời. Hẹn gặp lại cháu.
  6. Đinh Văn Thìn Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    3/5/13
    Số bài viết:
    3
    Địa điểm:
    Tào Sơn _ Anh Sơn _ Nghệ An
    Anh Thanh ah, em tên là Thìn ở Tào Sơn-Anh Sơn-Nghệ An. Anh có tài liệu nào về nhánh trên chỗ em ko? cho em xin với, em rất tò mò và muốn biết gốc gác của mình là từ đâu mà giờ mông lung quá. Hôm nay, em ở thành phố Hải Dương và đúng vào ngày giổ tổ Đinh Văn Tả, em có đến thắp hương và gặp rất nhiều người họ Đinh ở ngoài này....
  7. Đinh Bạt Thanh Thành viên mới

    Ngày tham gia:
    6/5/13
    Số bài viết:
    5
    Địa điểm:
    HƯNG TRUNG - HƯNG NGHUYÊN - NGHỆ AN


    em ah , về gia phá ở anh thì cũng không thấy chi nhánh nào ở H. Anh Sơn cả em ah, nhưng anh biết nguồn gốc họ Ở anh thì xuất phát đầu tiên cũng Đinh Văn .... nên anh nghe nhiều người lớn tuổi trong họ lúc trà dư tửu hậu thì hay nói câu Đinh Văn thì cờ bạc Đinh Bạt thì rượu chè ( không biết đúng không nữa) nên em thử tìm hiểu kỹ càng xem nhé ....

Chia sẻ trang này