Gia phả họ đinh - thanh hoá (phần 4)

Thảo luận trong 'họ Đinh ở Hậu Lộc - Thanh Hoá' bắt đầu bởi dinhtrungky, 6/2/10.

  1. dinhtrungky Moderator

    Ngày tham gia:
    1/2/10
    Số bài viết:
    91
    ĐỜI THỨ TƯ

    Dưới đây là các chi trưởng và thứ sinh sống ở thôn Đống Cải, xã Thanh Nê, huyện Nông Cống:

    Đinh Công Mệnh, chức Đô tổng binh sứ ty. Sinh ra Đinh Công Tôn.

    Đinh Công Quang, chức Đô chỉ huy sứ ty. Sinh ra Đinh Công Tề.

    Đinh Công Hựu, chức Đô tổng binh đồng tri. Sinh ra Đinh Công Vận.

    Đinh Công Hiếu chức Đô tổng binh sứ ty.

    Đinh Công Tụ chức Đô tổng binh chỉ huy sứ ty .

    Đinh Công Trinh chức Đô tổng binh chỉ huy sứ ty. Sinh ra Đinh Công Uy, Đinh Công Viết.

    Đinh Công Xuân (Thung) chức Đô chỉ huy sứ ty. Sinh ra Đinh Thế Vĩnh.

    ĐỜI THỨ NĂM

    Đinh Công Tôn sinh ra Đinh Phúc Thọ.

    Đinh Công Tề sinh ra Đinh Công Chí.

    Đinh Phúc Vận cùng Đinh Thế Vĩnh phụng sự các triều vua Hiến Tông
    Duệ hoàng đế, Thánh Tông Thuần hoàng đế đánh quân Chiêm Thành có nhiều công lao được vinh thăng Minh nghĩa tán trị công thần.

    Đinh Phúc Vận thăng Thái Bảo Nam quận công. Đinh Thế Vĩnh thăng Tả
    thị lang Binh bộ, Thái bảo Nam Quận công. Trước đinh Phúc Vận là Minh Nghĩa công thần, Thái bảo Nam quận công, lăng mộ tại thôn Đống Cải, xã Thanh Nê, huyện Nông Cống, giỗ ngày 3 tháng 8. Sinh con trai là Đinh Thừa Truy,

    Đinh Công Thành trước là Tổng binh thiêm sự, sinh ra Đinh Công Quý.

    Đinh Công Uy chức Tổng binh đồng sự, sinh ra Đinh Công Đức .

    Đinh Công Viết chức Chỉ huy đồng sự, sinh ra Đinh Công Lộc.

    Đinh Thế Vịnh chức Tả thị lang đô bộ, sinh ra Đinh Công Khánh.

    ĐỜI THỨ SÁU

    Từ lúc khởi nguyên di cư tới nay là 13 đời, 7 đời trở lên làm quan , 7 đời đến nay theo Nho học. Đời thứ 13 di cư đến Hậu Lộc.
    Tiên công Tiến sĩ, Tiên công Công chúa, Tiên công Thượng thư.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ NHẤT:

    Bình Ngô Khai Quốc công thần Thái sư Bân Quốc công Đinh Lễ; Em ruột là Thái sư Lân quốc công Đinh Liệt, sinh ra Đinh Công Đột.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ HAI:

    Đinh Công Đột Tả thị lang Binh bộ, Văn Thắng hầu.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ BA:

    Đinh Tiến Lộc sinh ra Đinh Công Hiếu.

    * CỤ TỔ ĐỜI THƯ TƯ:

    Đinh Công Hiếu sinh ra Đinh Công Thành.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ NĂM:

    Đinh Công Thành sinh ra Đinh Công Quý .

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ SÁU:

    Đinh Công Quý chức Hữu Thị lang bộ, sinh ra Đinh Công Dụ.

    *
    CỤ TỔ ĐỜI THỨ BẢY:

    Đinh Công Dụ sinh ra Đinh Văn Chất.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ TÁM:

    Đinh Văn Chất, chức Đô bộ sứ ty tôn công thần, Triệu tín hầu, tự Phúc Sinh, sinh ra Đinh Văn Hiền.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ CHÍN:

    Công thần tôn Tín vũ hầu Đinh Văn Hiền, tự Phúc Chân, sinh ra Đinh Văn Giám.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ MƯỜI:

    Công Thần tôn, Vệ uý Chánh đội trưởng phủ cát, Điền phương bá, tự Huyền Do, thuỵ Minh Nghị. Đinh Văn Giám sinh ra Đinh Văn Nghị.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT:

    Công thần tôn, chánh đội trưởng, Quản kiên thống tả đội, Phó vệ uý, chỉ huy thiêm sự, Vũ huân tướng quân, Tổng binh sứ ty, Đô tổng khôi sứ, Thọ hầu, huý là Nghi, tự Thuần Thành, thuỵ Trung Cần, sinh ra Đinh Công Huấn.

    * CỤ TỔ ĐỜI THỨ MƯỜI HAI:

    Công thần tôn, Chánh đội trưởng, Quản Phúc bồi đội, Huấn vũ bá, tự Văn Phướng, thuỵ Chân Tính, sinh ra 3 con trai.

    * CỤ TỔ CHI MẠNH ĐỜI THỨ MƯỜI BA:

    Công thần tôn, Chánh đội trưởng, Phó võ uý, thụ Đức Bá, huý Chiêm, tự Văn Thụ, thuỵ là Nhu Mị. Sinh hai trai: Trưởng chi :Đinh Văn Hoằng, cư trú ở xã An Trường, phủ Thọ Xuân.
    Chi thứ :Đinh Thời Bình, cư trú ở xã An Trung huyện Hậu Lộc.

    * TỔ CHI TRỌNG ĐỜI THỨ MƯỜI BA:

    Đinh Công Án sinh được bốn trai:

    Trưởng nam Hoằng Lộc công.

    Thứ nam Y Sư công.

    Thứ nam Thuộc công.

    Thứ nam Huy Viên công đều cư trú ở xã Lục Trúc, Nghĩa Trúc.

    * CỤ TỔ CHI QUÝ ĐỜI THỨ MƯỜI BA:

    Đinh Công Thành cùng anh trai trưởng cùng di cư đến xã An Trung.
    ***********
    Ngày 13 tháng giêng năm Tự Đức nguyên niên (1848), có bổ sung thêm những thiếu sót về các cụ tổ đời trước, cùng việc thờ cúng ở các xã, thôn, tổng, phủ, huyện, trong tỉnh ra sau đây: để cho các đời sau biết rõ sự tích.
    Nay bổ sung kê khai:

    Thần vị cụ : Tiên tổ Thái sư Bân quốc công, đầu tiên phong Long sắc.
    Trang Phú Lương, tổng Liêm Cư, huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung phụng thờ.

    Thần vị cụ tiền tổ Đô Đốc, Tả Đô đốc đầu tiên phong có sự tích. Vâng
    chiểu theo sự kê khai của bản trang:

    Thần là con của Thái sư Lân Quốc công Đinh Liệt, vào thời Lê Thái Tổ có giặc Ngô là Liễu Thăng đến xâm lược. Nhà vua ra lệnh cho Ngài đi đánh dẹp. Thần đi theo quản lĩnh mấy đội quân mã phối hợp tấn công, giặc Ngô đại bại. Về sau hà vua lên ngôi, phong cho Ngài là Bắc quân đô đốc, Tả đô đốc đi khắp thiên hạ kiểm tra địa giới đồng ruộng, thấy khu đất phù sa ở xã An Giáo rộng lớn có thể cấy trồng đem lại nhiều nguồn lợi. Thần tụ tập dân khắp nơi đến khai khẩn, dựng làng cư trú ở đó. Những người không nơi nương tựa trong thiện hạ đến tụ tập ở đó ngày càng đông đúc. Việc đến tai nhà vua nên thần xin được an cư tại xã đó, và xin đổi tên làng là Phú Lương. Về sau dân tưởng nhớ công đức lập đền thờ phụng. Phàm gặp việc gì khó khăn đến đó cầu đảo đều thấy linh ứng, vì thế mà nổi tiếng. Nay nêu sự tích.

    Ngày 20 tháng 2 niên hiệu Thành Thái, bản sắc cho vị Khai quốc công thần họ Lê, Thái Sư Đinh Quốc công tôn thần. Nguyên được phong là: “Minh trực, Bật hài, Vĩ phiệt, Quang ý, Dực bảo, Trung hưng Trung đẳng thần” .

    Giúp nước cứu dân, hiển hiển linh ứng. Năm Tự Đức, các quan trong bộ Lễ bàn phong nâng bậc, nay noi theo tiên chí, nhớ lại công lao của thần, gia phong làm “ Trác Vĩ Thượng đẳng thần”. Chuẩn cho thôn Đống Cải, xã Thanh Hà, huyện Nông Cống phụng thờ như trước, thần hãy giúp đỡ che chở cho dân ta. Hãy kính theo!

    Ngày 20 tháng 2 năm Thành Thái thứ 2 (1890).
    Sắc cho thôn Đống Cải, xã Thanh Hà, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá phụng thờ vị: “ Ngọc Ban phu nhân” đã giúp nước cứu dân, tỏ rõ linh ứng. Trước nay chưa được dự phong. Nay trẫm phi thừa mệnh sáng, tưởng nhớ đến công lao của thần, phong làm: “ Nhân uyển Dực bảo Trung hưng chi thần”. Cho phép được phụng thờ như cũ . Thần hãy giúp đỡ, bảo vệ cho dân ta. Hãy kính theo !
    Ngày 20 tháng 2 năm Thành Thái thứ 2 (1890).

    Các trang trại và các ruộng thế nghiệp, ruộng tế điền. Các tổng có lăng mộ tại xứ Đồng Miếu, thôn Đống Cải, xã Thanh Nê là 2 mẫu lẻ.
    Cụ họ Đinh, tên huý là Chân, giỗ ngày 23 tháng 12 .

    Quận chúa Lê Thị Ngọc Đường lăng mộ tại hương Lam Sơn, giỗ ngày 3 tháng 4. Sinh hạ 5 trai: trưởng là Đinh Công Chí, thứ là Đinh Công Địch, Đinh Công Minh, Đinh Tiến Lộc, con út là Đinh Khắc Thận. Trước đây Đinh Công Hiến làm quan đến chức Thiếu Bảo, tước hầu, lăng mộ phụ táng tại châu Mỹ Tài, giỗ ngày 17 tháng 3. Vợ là Lê Quý thị, cùng táng tại Châu đó, giỗ ngày 14 tháng 10. Sinh hạ được 2 trai: Đinh Nhân Thực, Đinh Nhân Tuấn.

    Trước đây Đinh Công Địch, Đinh Công Minh, Đinh Tiến Lộc, Đinh Khắc Thận,
    Đinh Nhân Thực, Đinh Nhân Tuấn đều làm phụ tá cho Thánh tông Thuan Hoàng đế, trải đến Hiến Tông Huệ Hoàng đế, phù thánh giá đánh giặc Chiêm Thành, phá giặc có nhiều công lao nên được vinh thăng “Tán trị công hầu”.

    Đinh Công Địch làm triều Liệt đại phu, thăng “Đô đốc phủ Tả đô đốc”.

    Đinh Công Minh làm quan đến Công bộ thượng thư Tả thị lang, tước Lương Mỹ hầu, Đinh Tiến Lộc thăng Tham đốc, tước Triêu dương hầu; Đinh Khắc Thận làm Tiền Nghĩa cung, tước Mỹ Lâm hầu.

    Đinh Nhân Thực thăng Đô tổng binh sứ, tước Mỹ Toàn hầu. Đinh Nhân Tuấn thăng chức Sùng Thiện hầu.

    Đinh Công Địch có một khu lăng mộ ở thôn Đống Cải, xã Thanh Nê. Vợ cả là Ngô Quý thị, táng tại sứ Na Sơn, giỗ ngày 15 tháng 8. Sinh được 2 trai: Đinh Công Mệnh, Đinh Công Quang.

    Trước đây Đinh Công Quang lấy vợ ở hương Lam Sơn là Lê Quý thị, huý Ngọc Mai, lăng mộ tại Lam Sơn, giỗ ngày 18 tháng 3. Mẹ là Lê Quý thị, giỗ ngày 17 tháng 2. Sinh ra Đinh Công Khô.

    Trước đây Đinh Tiến Lộc có lăng, mộ ở thôn Đống Cải, xứ Trùm, Dương Già, giỗ ngày 18 tháng 2. Vợ cả là Lế Quý thị hiệu Ngọc Chân, táng tại xã Nhân Võng, giỗ ngày 16 tháng 8, sinh ra Đinh Công Hiếu.

    Trước đây Đinh Khắc Thận làm chức Tiền Nghĩa cung, tước Mỹ Lâm hầu. Lăng mộ tại thôn Đống Cải, xứ Cồn Sum, giỗ ngày 18 tháng 4. Vợ cả là Trịnh Quý thị, lăng mộ tại thôn Đông Bình, giỗ ngày 8 tháng 7, sinh được 3 trai: Đinh Công Tụ, Đinh Công Trinh, Đinh Công Xuân (Thung).

    Trước đây Đinh Nhân Thực di cư đến xã Thạch Nội, huyện Ngọc Sơn, lăng mộ tại xã đó. Giỗ ngày 16 tháng 4, kế nối sinh con cháu tại xã đó .

    Trước đây Đinh Công Tuấn (tước Sùng Thiện Hầu, di cư đến xã Đô Kỳ, huyện
    Thần Khê, sinh ra cháu chắt ở các xã Đô Kỳ, Y Đốn.

    ĐỜI THỨ TƯ

    Trưởng thứ các chi ở thôn Đống Cải, Xã Thanh Nê, huyện Nông Cống như sau:
    * Trước đây Đinh Công Mệnh làm Đô tổng binh sứ ty, sinh ra Đinh Công Tề, Đinh Công Khô chức Đô tổng binh Đồng tri, sinh ra Đinh Công Vận.
    * Trước đây Đinh Công Hiếu chức Đô tổng binh sứ ty
    * Đinh Công Tụ là Đô chỉ huy sứ ty.
    * Đinh Công Trinh làm Đô tổng binh chỉ huy sứ ty, sinh được 2 trai: Đinh Công Uy, Đinh Công Viết.
    * Đinh Công Xuân (Thung) là Đô chỉ huy sứ ty, sinh ra Đinh Thế Vĩnh.

    ĐỜI THỨ NĂM

    * Trước đây Đinh Công Tôn sinh ra Đinh Phúc Thọ
    * Đinh Công Tề sinh ra Đinh Công Trí.
    * Đinh Phúc Vận sinh ra Đinh Thế Vĩnh. Đều thờ vua Hiến Tông Duệ hoàng đế, Thánh Tông Thuần hoàng đế, theo vua đi đánh nước Chiêm Thành, có công lao được vinh thăng làm Minh Nghĩa Tán trị công thần. Đinh Phúc Vận thăng là Thái Bảo Nam quận công. Đinh Thế Vĩnh thăng Binh bộ Tả thị lang.
    * Trước đây Đinh Phúc Vận làm Minh Nghĩa công thần, Thái bảo Nam Quận công, lăng mộ tại thôn Đống Cải, xã Thanh Nê, huyện Nông Cống, giỗ ngày 3 tháng 8, sinh 1 trai là Đinh Thừa Truy.
    * Đinh Công Thành là Tổng binh Thiêm sự, sinh 1 trai là Đinh Công Quý
    * Đinh Công Uy làm Tổng binh Đồng sự, sinh ra Đinh Công Đức.
    * Đinh Công Viết làm Chủ huy đồng sự, sinh ra Đinh Công Vinh.
    * Đinh Thế Vĩnh làm Đô bộ Tả thị lang, sinh Đinh Công Khánh.

    ĐỜI THỨ SÁU

    Di cư đến huyện Thuỵ Nguyên, đến nay là 13 đời, 7 đời trở lên đều làm quan, 7 đời trở xuống theo nghiệp nho học

    ĐỜI THỨ 13 - CHI THỨ
    Di cư đến Hậu Lộc làm: Tiên Công Tiết Sĩ, Tiên Công Công Chúa, Tiên Công Thượng Thư.

    Tổ đời thứ nhất: chức Bình Ngô khai quốc công thần Thái sư Bân Quốc công Đinh Lễ. Em ruột là Thái sư Lân Quốc công Đinh Liệt. Sinh ra Đinh Công Đột.

    Tổ đời thứ hai: chức Binh bộ Tả thị lang Văn Thắng hầu Đinh Công Đột.

    Tổ đời thứ ba: Đinh Tiến Lộc sinh ra Đinh Công Hiếu.

    Tổ đời thứ tư: Đinh Công Hiếu sinh ra Đinh Công Thành.

    Tổ đời thứ năm : Đinh Công Thành sinh ra Đinh Công Qúy

    Tổ đời thứ sáu: Công bộ Tả thị lang Đinh Công Quý sinh ra Đinh Công Dụ.

    Tổ đời thứ bảy: Đinh Công Dụ sinh ra Đinh Văn Chất.

    Tổ đời thứ tám: Đinh Văn Chất, tự Phúc Sinh, công thần tôn chức Đô bộ sứ ty, Triệu tín hầu.

    Tổ đời thứ chín: Đinh Văn Hiền, tự Phúc Chân, là công thần tôn Tín Vũ hầu, sinh ra Đinh Văn Giám

    Tổ đời thứ mười: Đinh Văn Giám, tự Huyền Do, thuỵ Minh Nghị, công thần tôn , làm Quản phủ cát đội Chánh đội trưởng Vệ uý tước Điền Phương bá. Sinh ra Đinh Văn Nghi.

    Tổ đời thứ mười một: Đinh Công Nghi, tự Thuân Thành, thuỵ Trung Cần, Công thần tôn, làm Quản kiên thống vệ, tả đội trưởng, phó vệ uý chỉ huy Thiêm sự, Vũ huân tướng quân, tổng binh sứ ty Đô tổng khôi, sứ Thọ hầu. Sinh ra Đinh Công Huấn.

    Tổ đời thứ mười hai: tên tự Văn Phương, thuỵ là Chân Tín, là Công thần tôn chức Quản phúc bồi đợi, chánh đội trưởng, tước Huấn Vũ bá . Sinh ra 3 trai.

    Tổ chi đầu đời thứ mười ba: tên huý là Chiêm, tự Văn Thụ, thuỵ là Nhu Uý, là công thần tôn, Chánh đội trưởng, Phó vũ uý, tước Thụ Đức Bá, sinh ra 2 trai: Chi trưởng là Đinh Văn Hoằng.( ở xã An Trung, huyện Hậu Lộc).

    Tổ chi giữa đời thứ 13: Đinh Công Án . Sinh được 4 trai: trưởng là Pháp Lục công, Thứ là Y Sư công, Phúc Thuộc công, út là Huy Viên công đều cư trú ở xã Lục Trúc, Nghĩa Trúc.

    Tổ chi út đời thứ 13: là Đinh Công Thành, cùng anh trưởng ở xã An Trung.

Chia sẻ trang này